Sự thật về Nguyễn Huệ

  • Bắt đầu Bắt đầu DuyNhat
  • Ngày bắt đầu Ngày bắt đầu

DuyNhat

Yếu sinh lý
Nguyễn Huệ là một con người hung bạo đánh tất cả mọi người, đó là một sự thực.

Nguyễn Huệ liên kết với hai tướng cướp Tập Đình và Lý Tài đánh chúa Nguyễn rồi lại đánh Tập Đình và Lý Tài, liên kết với chúa Trịnh rồi đánh chúa Trịnh, dùng Nguyễn Hữu Chỉnh rồi bỏ Chỉnh cho dân Bắc Hà giết. Nguyền Hữu Chỉnh không chết mà lại phất lên được thì sai Vũ Văn Nhậm đem quân đánh giết Nguyễn Hữu Chỉnh, tiện thể lấy luôn Bắc Hà. Rồi lại giết Vũ Văn Nhậm. Đến cả Nguyền Nhạc đối vơi Huệ vừa có nghĩa vua tôi vừa có nghĩa anh em, Huệ cũng đánh. Sau này hòa với nhà Thanh, rồi lại kết nạp bọn cướp biển đi đánh phá nhà Thanh và còn định đem quân đánh nhà Thanh. Nguyễn Huệ dùng bạo lực và sự tráo trở trong mọi trường hợp đối với bất cứ ai có khả năng trở thành một đối thủ. Việc Huệ đánh Nhạc chỉ vì hai anh em xích mích với nhau chuyện phân chia kho tàng lấy được ở Thăng Long là một hành động phản trắc và vô đạo. Nguyễn Huệ cũng rất tàn ác, các giáo sĩ thời đó dù bênh Tây Sơn cũng ghê sợ về sự tàn ác của Nguyễn Huệ và gọi ông là một thứ Attila mới trong những thư họ viết cho nhau. Họ kể lại khá chi tiết những việc làm dữ tợn của Nguyễn Huệ, mà khuôn khổ cuốn sách không cho phép tôi nhắc lại hết. Sau khi diệt nhà Trịnh và nói là một tấc đất của nhà Lê cũng không lấy, Huệ vẫn chiếm Nghệ An, vua Lê Chiêu Thống sai danh sĩ Trần Công Sán, mà Nguyễn Huệ biết tiếng và phục tài, cùng với hoàng thân Lê án, vừa là chú vừa là thày của công chúa Ngọc Hân, mang quốc thư vào xin lại Nghệ An và cam kết hàng năm nộp toàn bộ thuế của tỉnh cho Nguyễn Huệ, nhưng Nguyễn Huệ đã không cho còn hạ ngục và gông cổ cả phái đoàn rồi đem ra biển nhận thuyền cho chết. Nhiều người trách Nguyễn ánh nhỏ mọn quật mồ Nguyễn Huệ sau khi đã giết con cháu, mà quên rằng hành động thô bạo này chỉ là để báo thù một hành động thô bạo trước đó: Nguyễn Huệ đã tàn sát cả họ Nguyễn và đã đào mả tổ tiên Nguyễn ánh đem vất đi. Một lần trong một chuyến đánh phá Gia Định, một tướng Tây Sơn bị phục binh giết chết. Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ nỗi giận ra lệnh tàn sát tất cả dân chúng trong vùng, bất luận già trẻ, lớn bé, trai gái. Cuộc tàn sát đã kinh hoàng đến độ dân chúng các vùng phụ cận sau đó không dám ăn tôm cá vì sợ tôm cá ăn thịt những xác chết trôi đầy sông.

Một thí dụ khác là trận Đống Đa. Sau khi đã đánh tan quân Thanh và sợ quân Thanh quay lại phản ứng, Nguyễn Huệ ra lệnh cho dân chúng Thăng Long phải đắp xong trong vòng ba ngày một chiến lũy chung quanh để phòng thủ. Các giáo sĩ có mặt tại đó không thể nào tưởng tượng dân chúng Thăng Long có thể làm được điều đó. Nhưng họ đã làm được, họ đã làm tới kiệt sức, vì sợ bị Nguyền Huệ tàn sát, họ biết Nguyền Huệ không hề do dự trước sự chém giết. Tường xây lên xong các giáo sĩ kinh hoàng, họ đặt tên cho Nguyễn Huệ là Attila mới từ đó. Các tài liệu của các giáo sĩ, và nhiều nhân chứng phương Tây có mặt tại Việt nam lúc đó, về anh em Tây Sơn hiện vẫn còn lưu giữ trong nhiều thư viện tại Pháp. Một sử gia Việt nam, ông Tạ Chí Đại Trường, đã sưu tập một số đáng kể trong cuốn sách Lịch Sử Nội Chiến 1771-1802 của ông. Đây là một cuốn sách nên đọc cho những ai muốn tìm hiểu về nhà Tây Sơn.

Khả năng nhìn xa trông rộng của Nguyễn Huệ cũng rất giới hạn. Nguyễn Huệ đem binh đánh làm suy yếu Nguyễn Nhạc, rồi làm ngơ để Nguyễn ánh tiêu diệt dần lực lượng của Nhạc và Lữ ở trong Nam. Cứ bỏ qua sự tàn nhẫn với hai người anh đi thì đây cũng là một tính toán chiến lược rất chủ quan và phiêu lưu. Nguyễn ánh còn đang bành trướng thế lực ở trong Nam thì Nguyễn Huệ đã nghĩ đến việc đánh Trung Hoa. Thật là một ý đồ điên đại, chứng tỏ Nguyễn Huệ không có một hiểu biết chiến lược nào cả. Nếu Nguyễn Huệ còn sống để mà gây chiến với nước Tàu thì quả là đại hoạ cho nước ta. Cứ giả thử vua Càn Long cho không Nguyễn Huệ hai tỉnh Quảng Đông và Quảng Tày thì ngày nay nước ta cũng đã bị xóa bỏ rồi.Cũng nên tương đối hóa tài dùng binh của Nguyễn Huệ. Nhà Nguyễn và nhà Trịnh đánh nhau cả thảy bảy lần trong gần nửa thế kỷ, từ 1627 đến 1674, làm cho đất nước, nhất là miền Bắc suy kiệt và dân chúng chán ghét chiến tranh. Đây cũng là giai đoạn mà đạo Công Giáo và tư tưởng Thiên Chúa Giáo, sau một thế kỷ du nhập, đã phát triển mạnh, làm lung lay tư tưởng Khổng Giáo, nền tảng chính đáng của chế độ. Quần chúng Việt nam không còn nhìn các vua chúa như những đại diện của Trời mà họ phải phục tùng vô điều kiện nữa. Cả hai họ Trịnh Nguyễn đều suy thoái, việc binh bị bị bỏ rơi, người dân vừa không phục, vừa bớt sợ.
Chúa Nguyễn còn lo đánh dẹp, mở mang bờ coi nên người dân bỏ vào miền đất hoang phía Nam lập nghiệp tránh bị bắt lính rất nhiều. Lực lượng của chúa Nguyễn vừa suy yếu vừa bị trải rộng, dần dần mất thực chất. Các băng đảng cướp lộng hành khắp nơi. Đã thế, từ thời Võ Vương (1765) trở đi, Trương Phúc Loan lại chuyên quyền làm cho triều đình tan nát. Anh em Tây Sơn, nhờ tập hợp được một sổ băng đảng, nổi lên tiêu diệt chúa Nguyễn mà không cần đánh một trận đáng kể nào.

Quân Tây Sơn đã thắng dễ dàng vì thế lực của chúa Nguyễn đã hoàn toàn tan rã chứ không phải vì lực lượng của họ mạnh. Năm 1778, lúc Tây Sơn đã diệt chúa Nguyễn và chiếm Gia Định, thế lực lên đến cao điểm làm kinh động cả nước, toàn quyền Anh tại ấn Độ cử một chuyên viên là Chapman sang quan sát tình hình Việt nam. Chapman làm quen được với anh em Tây Sơn và được đi thăm viếng quan sát tỉ mỉ khắp nơi. Chapman báo cáo rằng thế lực của quân Tây Sơn chẳng có gì đáng kể, chỉ cần một đạo quân một trăm người mà có kỷ luật cũng đủ để đánh tan toàn bộ quân Tây Sơn một cách nhanh chóng. Xin nhấn mạnh con số một trăm và cũng xin nhấn mạnh rằng Chapman chỉ nói tới kỷ luật chứ không hề nói tới nhu cầu vũ khí tối tân. ở ngoài Bắc, hồi đó gọi là đàng ngoài, tình thế còn bi đát hơn.

Đời sống cơ cực và cương thường đảo lộn (họ Trịnh phế lập và giết vua Lê một cách rất tùy tiện) nên cả uy quyền chính trị lẫn uy quyền đạo đức đều tan. Giặc giã nỗi lên khắp nơi. Trịnh Sâm vừa tạm dẹp xong giặc thì lại say mê tửu sắc, bỏ trưởng lập thứ gây loạn ngay tại triều đình. Điều cần đặc biệt lưu ý là họ Trịnh lúc đó không còn quân đội. Chỉ một đám lính Tam Phủ, vài ngần tên không người chỉ huy, mà muốn phá nhà ai, giết quan nào cũng được. Khi chúng nổi loạn, Quận Huy Hoàng Tế Lý trên nguyên tắc cầm mọi binh quyền, phải một mình cưỡi voi ra đánh nhau với chúng rồi bị giết. Các tướng mỗi người trấn giữ một phương, mỗi người chỉ có vai chục gia nhân, rồi dựa vào đám gia nhân này mà đi bắt lính. Có khi họ bắt được cả ngần quân nhưng những quân đội ấy chỉ là những nông dân tội nghiệp không biết chiến đấu và cũng không muốn chiến đấu, hễ gặp quân địch là rã hàng bỏ chạy có khi còn đâm chết tướng để dễ chạy. Sách Hoàng Lê Nhất Thong Chí mô tả khá rõ xã hội miền Bắc lúc đó. Các sứ quân đã không có thực lực mà còn hiềm khích với nhau và chẳng tuân lệnh ai. Dân gian thì hễ ai khỏe mạnh ăn cướp được là đi ăn cướp, rất ghét quân Tây Sơn nhưng gặp quan nhà Lê là bắt nộp cho Tây Sơn để lãnh thưởng. (Sau này cũng chính dân chúng bát vua Cảnh Thịnh và các tướng Tây Sơn nộp cho Nguyễn ánh). Nguyễn Hữu Chỉnh bị anh em Tây Sơn bỏ rơi lên thuyền chạy về Nghệ An với mấy chục gia nhân, đến nơi không dám lên bộ. Vậy mà rời cũng đi bắt lính và thành lập được một đạo quân. Với cái quân đội ô hợp đó mà Nguyễn Hữu Chỉnh vào được Thăng Long như chỗ không người vì các quân đội khác còn ô hợp hơn nữa. Khi Nguyễn Hữu Chỉnh hoành hành ở miền Bắc, Nguyễn Huệ sai Vũ Văn Nhậm ra đánh, quân Nguyễn Hữu Chỉnh chưa đánh đã tan. Trong một bối cảnh như vậy, Nguyễn Huệ trấn áp được thiên hạ nhờ có được một đạo quân tinh nhuệ là điều dễ hiểu. Lý do thành công của Nguyễn Huệ là ông có một đạo quân thực sự trong khi các đối thủ của ông không có. Những chiến thắng như vậy không đòi hỏi một tài dùng binh nào.

ở trong Nam có trận thủy chiến tại Cần Giờ là đáng kề. Nguyễn Huệ chỉ huy gần một trăm chiến thuyền, như vậy cũng là vài ngần thủy quân, còn quân Nguyễn ánh không biết bao nhiêu. Nguyễn Huệ cũng phá được quân Xiêm. Trần Trọng Kim trong Việt nam Sử lược nói rằng quân Xiêm đông tới hai vạn người. Nếu đúng như vậy thì quả là một đạo quân rất lớn vào thời đó, nhưng quân Xiêm vừa tới nước ta thì đã rã hàng, đi cướp bóc khắp nơi chàng còn đội ngũ gì cả. Nếu có một đạo quân đàng hoàng thì đánh tan chúng không khó.

Cả ba trận Cần Giờ, Mân Thít và Đống Đa đều ở rất dưới tầm cỡ của những trận đánh thời Trần Hưng Đạo chống quân Nguyễn, Lê Lợi đánh đuổi quân Minh. Tài dùng binh của Nguyễn Huệ là có thực nhưng chưa được chứng minh ở tầm cỡ của các danh tướng thời Trần Hưng Đạo hay Lê Lợi.

Cần nhấn mạnh để đánh tan một hiểu lầm đã kéo dài quá lâu và đã là nguyên nhân cho nhiều giải thích lịch sử gượng ép: đó là quân Tây Sơn không mạnh mà cũng không tổ chức giỏi; họ đã thắng được các chính quyền Trịnh và Nguyễn bởi vì các chính quyền này đã đi tới cuối tiến trình phân rã. Nguyên nhân sâu xa của tiến trình phân rã này là cả hai chế độ Trịnh Nguyễn đã không ý thức được rằng nền tảng của xã hội Việt nam đã thay đổi sau hơn hai thế kỷ tiếp xúc với người phương Tây, và cứ cố tiếp tục duy trì lối cai trị cũ trên một xã hội đã đổi mới.

Nguyễn Huệ chỉ mới làm vua được gần bốn năm thì mất nên tài trị nước của ông không thể bàn đến. Một việc triều đình của ông làm thường được ca tụng là hay dùng chữ Nôm. Nhưng chữ Nôm thời đó đá phát triển lắm rồi. Chinh Phụ Ngâm và Cung Oán đã ra đời trước đó và đã có Nguyễn Du. Chính Nguyễn ánh cũng đã dùng chữ Nôm trong một số văn thư. Cũng có người nhắc đến dụ Khuyến Nông của Nguyễn Huệ, nhưng đó chỉ là một dụ bình thường lặp lại những gì các vị vua trước đó đã nói. Một biện pháp làm khổ dân chúng rất nhiều là dùng Tín Bài, một thứ thẻ căn cước, để kiềm soát dân chúng, trong mục đích bắt lính chuẩn bị đánh Trung Hoa. Biện pháp này làm dân chúng bị tham quan ô lại sách nhiễu đến nói nhiều người phải trốn vào rừng sinh sống để tị nạn Tây Sơn. Vả lại làm vua một nước đã kiệt quệ vì chiến tranh, vừa mới được một hai năm yên bình đã lo chuyện đánh nhau với một nước lớn gấp bội mình là điều mà một vị vua sáng suốt không thể làm.

Nhà Tây Sơn tuy chỉ kéo dài một thời gian ngắn nhưng đã anh hưởng rất lớn lên lịch sử nước ta và dịa lý chính trị trong vùng.

Cuộc khởi nghĩa Tây Sơn đã chặn đứng hẳn sự bành trướng của lãnh thổ Việt nam vào đất Cam-bốt. Năm 1771, khi anh em Tây Sơn bắt đầu tấn công chúa Nguyễn cũng là năm cuối cùng mà một phần đất Cam-bốt được sát nhập vào Việt nam. Lúc đó đất Cam-bốt gần như vô chủ, các chúa Nguyễn dồn dập mở rộng lãnh thổ, nhưng cuộc khởi nghĩa Tây Sơn đã làm họ sụp đổ và cuộc Tây tiến của Việt nam chấm dứt. Nếu không có anh em Tây Sơn chắc chắn nước Cam-bốt không còn.

Việc thôi bành trướng về phía Tây Nam, tùy cách nhìn, không nhất thiết là một sự thiệt thòi cho chúng ta. Nhưng anh em Tây Sơn đã làm một việc khác rất lớn, rất tai hại cho chúng ta và đã khiến chúng ta là chúng ta ngày nay: đó là phá tan và chấm dứt hơn hai thế kỷ tiếp xúc và giao thương đầy hứa hẹn với thế giới bên ngoài, nhất là phương Tây.

--

đọc toàn bài tại link dưới

 
Thôi mày đừng bốc phét. Đến tao con người thật ra sao còn chưa chắc ai biết nữa là lật lại mấy trăm năm
 

ditthangbanh

Chim TO
Thôi mày đừng bốc phét. Đến tao con người thật ra sao còn chưa chắc ai biết nữa là lật lại mấy trăm năm
Ai chứ cái ông Kiểng này thì cộng đồng nào cũng chửi ấy. Ông này là danh hài chứ sử học gì.
Hôm qua là ngày Mồng Năm Tết Ất Dậu, kỷ niệm 226 năm chiến thắng Đống Da của Hoàng Đế Quang Trung, mình tìm lại được hai bức thư viết từ sáu năm trước, hồi âm cho một người bạn và một độc giả, cả hai đều là người hoàng tộc ở Huế, nói quan điểm của mình về cái nhìn của ông Nguyễn Gia Kiểng (tác giả cuốn sách Tổ Quốc Ăn Năn) đối với Hoàng Đế Quang Trung.
Ông Nguyễn Gia Kiểng chê vua Quang Trung là tướng cướp bất tài, chê quân Tây Sơn là bọn cướp ô hợp và dẫn lời của một ông giáo sư đại học "Tưởng Quân Chương nào đó", giảng dạy tại Đại học VK Sài Gòn rằng trong trận Đống Đa vua Quang Trung đánh bại Đại quân Tôn Sĩ Nghị năm 1789, về phía quân Tàu, Tôn Sĩ Nghị chỉ đem có sáu ngàn quân Tàu sang làm "thanh viện" (hỗ trợ bằng miệng) chớ không có đến hai mươi vạn quân Thanh như sử chép, vì hồi đó không có đường xá để chuyển quân và lương thực cho một đoàn quân lớn như thế.
*
Thư thứ nhất:
Thứ 4, 4/02/09, Thieu Khanh <[email protected]> đã viết:
Nguyễn Phúc V.B. thân mến,
Tôi đã đọc Tổ Quốc Ăn Năn của Ông Nguyễn Gia Kiểng cách đây khá lâu, và thú thật với VB là tôi không có kiên nhẫn đọc hết. Tác giả tự nhận mình là nhà hoạt động chính trị chớ không phải sử gia. Ông ấy không cần phải nói điều đó thì người đọc cũng biết, vì cách đọc sử và viết sử của ông ta rất... quái gở. Tôi không nói là ông ta không biết đọc lịch sử, nhưng thú thật là tôi không hiểu tại sao ông ta phải đọc - và phải viết - lịch sử một cách nông cạn và khôi hài như thế. Ông ấy không phải là người đầu tiên gọi Nguyễn Huệ là giặc. Người đầu tiên gọi như thế là Nguyễn Ánh, tức về sau là vua Gia Long, và có thể nói tất cả các sử gia triều Nguyễn đều gọi Nguyễn Huệ như thế. Nguyễn Huệ mà Nguyễn Gia Kiểng gọi là tướng cướp vô tài bất tướng ấy, suốt hơn hai mươi năm làm tướng - từ năm 19 tuổi - chưa hề thất trận lần nào, mà những chiến thắng của ông ta đều "sấm sét." Mỗi lần Nguyễn Huệ đem quân vào Nam là Nguyễn Ánh chỉ còn nước... chạy ra các hòn đảo xa xôi heo hút ngoài biển để thoát thân và lánh nạn. Các sử thần triều Nguyễn chẳng hề "nể mặt" Nguyễn Gia Kiểng nên đã ghi rõ như thế. Nhưng có những người đương thời với Nguyễn Huệ biết ông ấy là một anh hùng (từ lâu trước khi ông ấy lên ngôi hoàng đế). Một trong những người đó là một cung nữ của vua Lê Chiêu Thống (Hoàng Lê Nhất Thống Chí). Không những vua Lê Chiêu Thống không bằng một người đàn bà, mà vào thế kỷ 21, trí tuệ con người đã có nhiều mặt vượt xa người xưa nhưng quả là cái thấy của ông Nguyễn Gia Kiểng vẫn còn không bằng nhãn quan của một người cung nữ thế kỷ 18, một người mà vào thời đó - và mãi đến gần đây - bị coi thuộc giới... không qua ngọn cỏ!
Nước ta vào các thế kỷ 13 - 15 thì có bao nhiêu dân? Đời nhà Trần, vào thế kỷ 13, chỉ riêng vùng Nghệ An Thanh Hóa có thể cung cấp hàng chục vạn (trăm ngàn) quân, như trong câu thơ của vua Trần Nhân Tôn (Cối Kê cựu sự quân tu ký, Hoan Diễn do tồn thập vạn binh). Thời Hồ thế kỷ 15, Hồ Quí Lý từng ao ước có được một triệu quân để đánh Tàu. Thế thì nước Tàu vào thế kỷ 18 lại không huy động được hai mươi vạn quân, mà chỉ sai "sáu ngàn kỵ binh" sang Việt Nam! Há nhà Thanh lại u mê tăm tối không biết rằng Việt Nam là nước duy nhất "trong thiên hạ" đã từng ba lần đánh bại quân xâm lăng Mông Cổ hùng mạnh hạng nhất vào thế kỷ 13 hay sao mà lại sai sáu ngàn quân qua Việt Nam làm "thanh viện" để "ôm đầu máu" chạy về cho nhục? Chuyện "thanh viện" và "sáu ngàn kỵ binh" chỉ là một cách nói để vớt vát thể diện của Thanh triều sau khi Tôn Sĩ Nghị sống sót chạy về nước qua ngõ... ống đồng! Tôn Sĩ Nghị vốn là Tổng Đốc Lưỡng Quảng đấy. Sai có "sáu ngàn kỵ binh" mà phải đặt một ông tổng đốc Lưỡng Quảng làm đại tướng thống lĩnh hay sao?
Để làm nhẹ bớt tầm quan trọng của số quân lớn lao này, các tư liệu của Tàu nói rằng đám quân sang "giúp" Lê Chiêu Thống cứ một người lính thì có ba hay bốn người phục dịch cơm nước và cắt cỏ cho ngựa. Nếu tin như vậy, trong số hai mươi vạn quân ấy, chính thức chỉ có khoảng năm chục ngàn tên cầm vũ khí. Nhưng nếu chúng thắng trận thì liệu hơn một trăm năm chục ngàn tên “không chính thức cầm vũ khí” kia sẽ làm gì? Có quân đội của quốc gia nào chỉ đếm đầu lính mang súng và không kể lực lượng hậu cần không?
Tôi không phải là sử gia. Đương nhiên tôi cũng không phải là... Càn Long, nhưng nếu tôi là Càn Long, tôi cũng thấy rằng "thiên triều" không nên thua và bị tiêu diệt đến hai mươi vạn quân. Cái thua đó là quá đau, quá nhục, là bôi tro trát trấu vào mặt thiên triều. Vua Càn Long chỉ nên thua và mất vài chục thằng lính thôi. Như thế cái mặt "thiên triều" còn nguyên, không ai có thể nói đó là... mặt mo được.
Thế nhưng nếu Nguyễn Huệ chỉ "lỡ tay" đánh bại vài chục, thôi cho là vài trăm, thậm chí vài ngàn lính của "thiên triều," thì tội vạ gì phải "đích thân" (thực ra là sai người cháu đóng giả vai mình) sang Tàu để cầu hòa? Nguyễn Huệ phải "lỡ tay" đánh tan hơn hai chục vạn quân của Càn Long(1) nên mới phải làm vậy để thiên triều đỡ mất mặt gây chiến tranh phục thù lôi thôi. Và Nguyễn Huệ cũng phải "lỡ tay" giết hai chục vạn quân của chúng chỉ trong vòng năm ngày đến nổi dân Tàu ở vùng biên giới sợ ông ta thúc quân đánh tràn qua nên bỏ nhà cửa chạy hết đi lánh nạn "khiến cho hàng trăm dậm đất từ Ải Nam Quan vào sâu trong nội địa của Tàu tịnh không có tiếng gà gáy cho sủa!" (Trần Trọng Kim - Việt Nam Sử Lược, dẫn theo trí nhớ), thì ông ta mới có đủ hào khí để tới giữa triều đình nhà Thanh đòi đất Lưỡng Quảng chớ! (Sử gia Trần Trọng Kim là người có tinh thần kính trọng hoàng triểu "truyền thống", và ra "làm quan" cho triều Nguyễn mà phải nói thế đấy.)
Sử sách nói Nguyễn Huệ chỉ muốn lấy chuyện đòi đất để thăm dò xem mức độ... tè ra quần của bọn Tàu ra sao mà thôi, chớ có phải ông ta dốt nát gì mà không biết cái "khối thịt" Lưỡng Quảng thừa sức... đè mình chết tươi. Phúc Khang An, tổng đốc Lưỡng Quảng (thay Tôn Sĩ nghị), sợ Nguyễn Huệ đến... suýt vải ra quần, đến nổi ông ta biết vua Quang Trung đến "chầu thiên triều" chỉ là một ông vua giả, một người cháu gọi vua Quang Trung bằng cậu, còn vua Quang Trung thật thì đang ở Nghệ An chuẩn bị lực lượng để đánh Nguyễn Ánh trong Nam, mà cũng câm như hến, không dám hé miệng tâu với Càn Long. Có khi chính bản thân Càn Long cũng biết đó là vua Quang Trung giả mà ông ta vờ tin là thật cho yên chuyện (và để cho an toàn ra về). Trong lịch sử Trung Quốc đâu có thiếu chuyện vua chư hầu về triều chầu thiên tử rồi bị cầm giữ luôn không cho về nước. Liệu vua Càn Long có "nai" đến nỗi tin vua Quang Trung ngu dại đích thân vào hang cọp nộp mình?
Theo chỗ tôi biết, những sử liệu của Tàu liên quan đến chuyện này được các sử gia ta trích dẫn nhiều lắm, và dĩ nhiên là các nhà viết sử Tàu (hoặc các báo cáo của những tướng lãnh thất trận) cũng cố dối quanh (cho đỡ nhục), nhưng trong khi ông A dấu khúc đầu để lòi khúc đuôi và khúc giữa, thì ông B dấu khúc giữa để lòi khúc đầu và khúc đuôi, còn ông C thì dấu kỹ khúc đuôi, chỉ chừa khúc đầu và khúc giữa. Càn Long có lẽ là một trong những ông đó. Nhưng viết sử mà trích dẫn kiểu như thế thì ... lạ lắm. Ông Nguyễn Gia Kiểng phải phân bua: "tôi không phải là sử gia." Không phải thì thôi, cứ im miệng đi... như tôi, thì có ai nói gì đâu! Sao lại bôi bẩn ra như thế bắt các thế hệ sau phải chùi rửa?
Tôi không nhớ hết thư tịch Việt Nam liên quan đến trận đánh năm Kỷ Dậu 1789, nhưng tôi biết những tư liệu đó (phần lớn trích dẫn thư tịch Tàu) không phải khó kiếm. Kể cả các thư tịch Tàu được các sử gia của ta khai thác "tận nguồn cơn". Nhiều tư liệu lý thú lắm, nó làm cho các "kiến giải" của Nguyễn Gia Kiểng thành ra... không giống ai, Vĩnh Ba ạ.
Ông Nguyễn Gia Kiểng nói "Tôi chưa thấy sử gia Việt nam nào bác bỏ sự kiện của ông Tưởng Quân Chương", vị "chuyên gia người Đài Loan về Việt Nam" cho rằng "Tôn Sĩ Nghị tổng đốc Lưỡng Quảng đã đem sáu ngàn kỵ binh sang Việt Nam để phô trương thanh thế." Còn tôi thì nói: "tôi chưa thấy ai bác bỏ cách viết sử với đầu óc nô lệ Tàu một cách tối tăm tội nghiệp như nhà hoạt động chính trị Nguyễn Gia Kiểng này". Lý do của cả hai sự kiện trên là: người ta không đếm xỉa đến, Vĩnh Ba bạ. Nhưng việc sổ toẹt cuốn Tổ Quốc Ăn Năn thì có. Ít nhất, gõ vào Google cái tên Trần Thị Bông Giấy, Vĩnh Ba có thể gặp được một trong những người làm cái việc sổ toẹt đó. Và bà ấy làm khá "thuyết phục".
Thiếu Khanh.
Chú thích:
1. Có chỗ nói đến 29 vạn, nghĩa là gần ba trăm ngàn quân.
*
Thư thứ hai:
Wed, Feb 4, 2009 at 9:40 PM
Kính anh Tôn Thất Th.,
Cám ơn anh đã thông báo một số tư liệu về triều Tây Sơn theo cái nhìn của các thừa sai Gia Tô Tây phương. Những tư liệu đó tôi đã có đọc rồi. Và tôi ngờ rằng không phải các sử gia viết về triều đại này hoàn toàn không biết đến nguồn tư liệu đó.
Trong khi các vị thừa sai này (chưa nói họ đứng ở đâu để nhìn và nhìn bằng loại kính màu nào) thấy phong trào Tây Sơn là một bọn cướp không có luật pháp, không biết cai trị, thì hoàng đế Càn Long của nhà Thanh đã dành cho "vua Quang Trung"(1) những nghi thức có thể nói chưa từng có trong lịch sử bang giao giữa Việt Nam ("chịu phong") và Tàu ("thiên triều") nói riêng, và giữa Tàu với các nước nhỏ khác trong vùng, nói chung, khi "vua Quang Trung" vào "triều kiến". Đáng kể trong các nghi thức đó là "Lễ Bảo Tất" (Càn Long bày tỏ tình cảm trìu mến với "vua Quang Trung" như cha với con - lúc đó vua Càn Long đã ngoại thất tuần và Quang Trung mới bốn mươi tuổi.), và đặc cách cho họa sĩ vẽ truyền thần vua Quang Trung ngồi trên mình ngựa. Ngày nay chân dung vua Quang Trung mà chúng ta đang có chính là bức vẽ này đây, và đó thực ra là chân dung của Phạm Công Trị, cháu gọi vua Quang Trung bằng cậu, đóng giả vua vào "triều kiến" vua Càn Long. Không có một quốc vương nào trong suốt lịch sử bang giao của quốc gia họ với Tàu được cư xử như thế. Nghi thức "bảo tất" (ôm đầu gối nhà vua), ngoài ý nghĩa ngoại giao nhún nhường về phía ta, không hề hạ thấp nhân cách của vua Quang Trung. Ông Nguyễn Gia Kiểng là "chính khách" mà không hiểu được sách lược ngoại giao của triều Tây Sơn, được Ngô Thì Nhậm thực hiện, trong tình thế tế nhị này. Đó là hai anh hùng (trong con mắt Càn Long) kết nghĩa cha con theo tuổi tác. "Hoàng đế thiên triều" không thể kết nghĩa cha con với giặc cỏ hay tướng cướp. Một người giết chết vài chục người thì kẻ đó là tội phạm. Khi ông ta đánh tan hơn hai mươi vạn quân của thiên triều, giết chết vài chục ngàn người thì đó là một thiên tài.
Thế thì cùng một đối tượng đó, có hai cái nhìn khác nhau. Vị "thiên tử", hoàng đế của một nước lớn mà suốt dòng lịch sử chưa bao giờ nguôi mộng thôn tính nước ta, vừa bị Quang Trung đánh cho te tua cái đạo binh hơn hai mươi vạn quân chỉ trong năm ngày, đã phải nhìn thấy Quang Trung là một bậc anh hùng lỗi lạc. (Người ta phải bại trận dưới tay một anh hùng lỗi lạc chớ, sao lại thua thê thảm dưới tay một tướng cướp được!). Vị "thiên tử' đó dành cho Quang Trung những nghi thức như thế để cho thiên hạ thấy ông ta cũng là một bậc minh quân anh hùng, biết thương yêu người có tài. Nên biết là Càn Long (nhất định) phải biết đây chỉ là vua Quang Trung giả. Và ông ta phải ngậm đắng nuốt cay để ra vẻ minh quân như thế.
Giữa hai nguồn tư liệu này - từ các thừa sai Gia Tô và từ các thư tịch Tàu - cái nào có giá trị hơn? Đâu cần phải viện đến tình tự và lòng tự hào dân tộc để chọn nguồn tư liệu Tàu trong trường hợp này! Ông Nguyễn Gia Kiểng không cần phải lo chuyện đi đứng ăn uống cho hơn hai mươi vạn quân Thanh để "suy ra" còn có sáu ngàn tên kỵ binh. Ông Nguyễn Gia Kiểng đặt câu hỏi hai mươi vạn quân là con số quá lớn trong khi đường sá không có, vậy chúng đi bằng cách nào để băng qua rừng núi. Tôi cho đó là một câu hỏi hoàn toàn không thông minh. Hoặc ít ra ông hoàn toàn mù lòa về lịch sử. Chắc là ông ta tưởng Napoleon đã… dùng máy bay không vận quân đội của mình sang nước Nga và sang Ai Cập chăng? Có lẽ ông Nguyễn Gia Kiểng cho rằng Việt Nam và Tàu thời đó tuy giáp biên giới với nhau, “núi liền núi sông liền sông,” nhưng chưa có máy bay và đường xe lửa thì làm sao Tôn Sĩ Nghị có thể chuyển được hai mươi vạn quân xâm lăng sang VN! Đây không phải là lần đầu tiên bọn giặc phương Bắc ấy sang xâm lăng nước ta, và cũng là lần cuối cùng trong thời phong kiến. Trận đánh của vua Quang Trung đã làm chúng nguội hẳn mộng xâm lăng Việt Nam trong suốt 190 năm (tính đến năm 1979).
Thời Lý, không lẽ Lý Thường Kiệt chỉ dẫn vài ngàn quân sang đánh và vây hãm hai Châu Ung và Liêm của Tàu thời Tống sao? Lý Thường Kiệt dẫn vài vạn quân sang đánh chúng được thì chúng cũng làm được như thế, và nhiều hơn thế, để đánh ta. Vả lại trong các triều đại Nguyên và Minh trước đó chúng cũng từng mang đại quân sang xâm lăng nước ta mà chúng không hề thấy có khó khăn gì để phải hỏi ý Nguyễn Gia Kiểng. Nguyễn Gia Kiểng thực tình ngây thơ hay giả nai không biết các đạo quân nào tham chiến do những tướng lãnh nào chỉ huy thì các tư liệu lịch sử của Tàu đã có ghi.
Còn chuyện số quân lính đông đảo đó đi đứng thế nào, ăn uống ra sao thì đã có các tướng lãnh của chúng lo, và trong báo cáo "tổng kết chiến dịch" chúng có ghi rõ đã dựng những trạm tiếp tế lương thực ở đâu trên con đường tiến quân từ Tàu qua đến Việt Nam, chỉ có điều các sử gia của ta phát hiện chúng nói phét: khi tháo chạy về nước, chúng toàn chui rúc theo đường núi thâm u hẻo lánh rất gian nan vất vả để tránh bị truy kích (trong báo cáo của chúng nói thế), nhưng cứ xưng xưng là đến đâu chúng đều đốt bỏ các trạm lương thực đã xây dựng trước đó trong lúc tiến quân để khỏi rơi vào tay quân Tây Sơn. Sao chúng lại xây dựng các trạm tiếp tế lương thực trong rừng núi hẻo lánh thâm u? Không lẽ chúng biết trước sẽ thảm bại và chạy bán sống bán chết về nước bằng những con đường đó?
Cách đây nửa thế kỷ, ông Nguyễn Gia Kiểng còn là một thanh niên nhẹ dạ non nớt, bị một anh Tàu vô danh "hù". (Nói vô danh vì dù lúc bấy giờ tuy ông Tưởng Quân Chương nào đó là giáo sư đại học, nhưng giới nghiên cứu lịch sử cho đến nay vẫn cứ không thèm biết đến ông ta). Thay vì cảm thấy lòng tự hào dân tộc bị xúc phạm, Nguyễn Gia Kiểng phải dốc lòng học cho thuộc lịch sử và nghiên cứu thật sâu lịch sử của dân tộc mình để củng cố lòng tin vào đất nước và kính trọng tiền nhân, và dũng cảm đính chính và cho anh Tàu Đài Loan đó một bài học về sự xấc xược của anh ta mới đúng, đàng này Nguyễn Gia Kiểng bị "khớp" và bạc nhược đầu hàng môi mép một anh Tàu để quay ra tìm cách minh chứng một cách bịa đặt ấu trỉ cái xấu cái dở của tiền nhân, những anh hùng dân tộc, với những bài viết nhục nhã rất đáng xấu hổ. Tư liệu lịch sử đâu phải là không có hoặc quá khó tìm đối với anh thanh niên Nguyễn Gia Kiểng ngày xưa và với ông già chính khách Nguyễn Gia Kiểng ngày nay đang làm chính trị ở nước ngoài!
Ông ta cho rằng các cấp chỉ huy trong quân đội Tây Sơn toàn các đô đốc vì họ quá tôn sùng bọn cướp biển và chức đô đốc của bọn cướp biển là một ước mơ của họ, chớ họ không có Hải quân làm sao lại có đô đốc! Một lý lẽ liều lĩnh và thiển cận rất trẻ con! Ông ta không biết Đề đốc Hứa Thế Hanh của Tàu có phải là Hải quân hay cướp biển gì đâu! Năm Đinh Dậu (1537) vua nhà Minh sai Cửu Loan làm Đô Đốc, Mao Bá Ôn làm Tán Lý quân vụ, đem quân đi đánh Mạc Đăng Dung thì bọn quân Tàu đó cũng chẳng phải là Hải quân hay cướp biển! Con của Mạc Cửu là Mạc Thiên Tứ được chúa Nguyễn (Phúc Chu ?) phong làm đô đốc trấn giữ Hà Tiên đấy, có phải là Hải quân hay cướp biển gì đâu? Trước đó, năm 1693, chúa Nguyễn đánh lấy nước Chiêm Thanh đổi thành Thuận Phủ và phong cho ba người con của một hoàng thân Chiêm Thành làm chức Đề đốc, và một người khác làm chức tả đô đốc trấn giữ Thuận Phủ (về sau là vùng đất Bình Thuận), đâu phải là Chúa Nguyễn lập Hải Quân cho họ, hay phong cho họ làm cướp biển! Thật ra thì từ thời Lê Trịnh ngành quân sự được chia thành năm phủ, gồm bốn phủ Đông Tây Nam Bắc và Trung quân phủ, mỗi phủ có quan tả hữu đô đốc đứng đầu. Năm 1655, tướng Trịnh là Trịnh Trượng giữ chức Thống lĩnh Kinh lược xứ Nghệ An bị tướng của Chúa Nguyễn là Nguyễn Hữu Tiến đánh bại. Chúa Trịnh Tráng liền giáng Trịnh Trượng xuống làm đô đốc, rồi sai con là Trịnh Tạc vào làm Thống Lĩnh Nghê An.
Các chức đô đốc, đề đốc vốn đã có trong quân đội của cả Việt Nam và Trung quốc từ thời xa xưa(2) . Chỉ đến khi tiếp xúc với quân sự của Tây Phương người ta mới dùng những từ đề đốc, đô đốc có sẵn để dịch các chức quan Hải Quân ở cấp tướng lãnh của họ(3), nên ông Nguyễn Gia Kiểng tưởng chức đề đốc và đô đốc trong quân đội các triều đại ngày xưa của ta cũng phải là của lực lượng Hải quân! Nếu ông ta biết Nguyễn Tri Phương từng được phong làm Tổng Thống quân vụ, có lẽ ông ta suy ra vua Tự Đức có đầu óc... Cộng hòa!(4).
Thật tội nghiệp và thật đáng ái ngại cho ông chính khách. Ông ta làm chính trị đấu tranh cho cái gì đây? Đấu tranh cho ta thua Tàu chăng? Trong cuốn sách Tổ Quốc Ăn Năn và nhất là trong bài viết nhục nhã về vua Quang Trung này ông Nguyễn Gia Kiểng đã nói rõ.
Ông Nguyễn Văn Lục (Có hai ông Nguyễn Văn Lục, ông Nguyễn Văn Lục với bài viết về Tây Sơn trên DCV có lẽ là em trai của giáo sư Nguyễn Văn Trung, người Thiên Chúa giáo) có thể tin vào các vị thừa sai Gia Tô của ông, nhưng dường như ông chưa dám mạnh miệng khẳng định bậy bạ và hỗn láo về triều Tây Sơn và vua Quang Trung như ông Nguyễn Gia Kiểng đã làm (và gần đây có vài "nhà văn" bắt chước, tưởng như thế là "có hiểu biết."). Còn chuyện quân lính cướp bóc thì đâu có riêng gì quân khởi nghĩa Tây Sơn? Sử chép, dưới thời chúa Trịnh Khải, quân lính triều đình (kiêu binh) "kéo nhau hàng trăm hàng ngàn đi cướp bóc làng mạc nhân dân. Dân bắt được tên lính nào đi lẻ loi thì giết ngay. Quân với dân coi nhau như kẻ thù" (Trần Trọng Kim - Việt Nam Sử Lược, dẫn theo trí nhớ) Đó là quân chánh quy của triều đình, chớ không phải quân "nổi loạn" như Tây Sơn.
Vào đầu thế kỷ 19, khi Napoleon đem quân đi đánh Nga, quân đội dưới quyền vị hoàng đế "bách chiến" này tiến vào Moscow liển... rã ngủ để đổ xô đi ăn cướp, đến nỗi Napoleon không còn quân đội nữa, phải vội vã mang đội quân cận vệ tháo chạy khỏi nước Nga và bị Tướng Kutuzov truy đánh tan tành, hút chết. Một số quân lính Tây Sơn ô hợp vốn là nông dân đói khát dẫu có đi ăn cướp thì cũng có thể hiểu được thôi.
Ông Nguyễn Gia Kiểng tưởng những cuộc Thập Tự Chinh của Tây phương vào những thế kỷ trước đánh phá tan nát vùng Trung Đông chỉ là những cuộc du ngoạn giao hảo, văn minh lắm chắc?
Chỉ tiếc vị hoàng đế lẫm lệt Quang Trung chết sớm quá, chưa làm được gì nhiều, nên Nguyễn Gia Kiểng chê ông bất tài, không làm được chuyện gì cả. Nguyễn Gia Kiểng không hiểu được tầm quan trọng của việc vua Quang Trung cổ vũ việc dùng chữ Nôm thay cho chữ Hán với lập luận: Vua Quang Trung không phải là người sáng tạo ra chữ Nôm, mà chữ Nôm vốn đã có từ trước. Không ngờ kiến thức của ông ta lại non nớt thê thảm như thế. Một ông chính khách với kiến thức nông cạn như thế thì liệu ông ta có thể đảm nhận được công việc gì nếu có ai đó muốn mời ông"tham chính" nhỉ? Tôi có cảm giác ông Nguyễn Gia Kiểng có mối thù gia tộc rất thâm sâu riêng với Nguyễn Huệ nên ông ta dùng mọi lời lẽ ti tiểu để "hạ bệ" vị anh hùng dân tộc này. Mối thù đó là của Gia Long Nguyễn Ánh chớ! Nhưng ngay cả các hậu duệ của hoàng tộc nhà Nguyễn ngày nay cũng đã hiểu lẽ phải lịch sử. Họ cũng tự hào với vị hoàng đế vĩ đại vốn là kẻ thù không đội trời chung với vị Thế Tổ Cao Hoàng Đế của họ.
Thật là tức cười, tuy chê bai mạt sát Quang Trung Nguyễn Huệ một cách tàn mạt, Nguyễn Gia Kiểng lại viết: "Nhà Tây Sơn tuy chỉ kéo dài một thời gian ngắn nhưng đã ảnh hưởng rất lớn lên lịch sử nước ta và địa lý chính trị trong vùng." Chỉ cần ông ta biết được một điều như thế là đủ quí hóa rồi. Nhưng khi ông ta viết những câu dưới đây, tôi cho ông ta hoàn toàn giống một tên Việt gian tiếp tay biện hộ cho Tàu:
"Thực ra chính Nguyễn Huệ đã là nguyên nhân đưa tới việc quân Thanh can thiệp. Vả lại ở đoạn trên chúng ta đã thấy vào giai đoạn đó nhà Thanh hoàn toàn không có ý định đánh chiếm nước ta, chính vì thế mà sau trận Đống Đa họ đã bỏ nhà Lê mà hòa với Nguyễn Huệ. Ngược lại nếu Nguyễn Huệ còn sống để mà gây chiến với nhà Thanh thì rất có thể nước ta đã tan hoang và mất về tay quân Tàu. "
Tôi hoàn toàn không muốn nói ông Nguyễn Gia Kiểng là một kẻ cực kỳ "XXX". Chỉ riêng những câu trên đây của ông ta đã đủ chúng tỏ như thế. Từ khi bắt đầu viết tôi đã cố tránh dùng những lời đó, tuy tính chất ấy rất "khớp" với tất cả những gì ông ta đã viết ra trong vấn đề này. Nhưng nói như thế bất nhã và bất nhẫn quá.
Thiếu Khanh.
*
Chú thích:
(1). Chỗ này tôi để chữ "Vua Quang Trung" trong dấu ngoặc kép, vì đây là ông vua giả, một người cháu của vua Quang Trung đóng giả vai nhà vua sang "chầu" vua Càn Long nhà Thanh.
(2). Đọc lại Việt Nam Sử Lược của Trần Trong Kim tôi bắt gặp nhiều chỗ khác nữa các triều đại ta và Tàu đều có phong chức đề đốc hay đô đốc cho các tướng lãnh quân đội mà không ai là sĩ quan Hải Quân cả. Ví dụ:
-Năm Đinh Dậu (1537) vua nhà Minh bèn sai Cừu Loan làm đô đốc (…) đem quân sang đóng gần cửa Nam Quan… (Trần Trọng Kim, VNSL, Tân Việt, SG 1968, trang 273.);
-Trịnh Tạc sai (…) Lê Sĩ Triệt làm đô đốc đóng ở Hà Trung… (Trần Trọng Kim, sđd. Trang 304);
-… quân ta đánh thua ở Lạng Sơn… quan phó đề đốc Nguyễn Viết Thành tử trận (…) quan đề đốc tỉnh Quảng Tây… (sđd, – 507)
(3). Có lẽ Trần Trọng Kim là người đầu tiên, khi soạn Việt Nam Sử Lược, đã dùng các từ đề đốc và đô đốc để dịch các các cấp bậc tướng lãnh trong Hải quân Tây phương, và từ đó các cấp bậc quân sự này được mặc nhiên dành riêng cho Hải Quân chăng?
(4). Chức Tổng Thống còn được thấy ở một chỗ khác trong Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim: “Triều đình thấy thế giặc ngày càng to, bèn sai (…) ông Lê Bá Thận làm tổng thống, đem quân ra đánh dẹp từ tháng hai đến tháng sáu mới xong.” (sđd trang 521.)
 
Bên trên
X
telegram-icon
Tắt Quảng Cáo