ditthangbanh
Chim TO
[Triệu Hoàn Bích (조완벽,趙完壁)|Người Triều Tiên đầu tiên đặt chân đến Đằng Ngoài - An Nam]
So với người Việt thì người Triều Tiên đến nước Việt hơi trễ. Theo các nghiên cứu thì người đầu tiên đặt chân đến bán đảo Triều Tiên là các hoàng tộc họ Lý chạy nạn trong cuộc buổi loạn lạc vào cuối thời nhà Lý. Tiêu biểu như Hoàng tử của Lý Anh Tông là Lý Long Tường (thủy tổ của họ Lý ở Hoa Sơn [화산이씨,華山李氏]) sau khi ra khơi ở Thanh Hóa đã trôi dạt đến quận Ung Tân (옹진군,甕津郡) phía Tây Bắc bán đảo Triều Tiên dưới thời Cao Ly Cao Tông (1226). Tuy nhiên trước Lý Long Tường thì đã có một hoàng thân họ Lý là Lý Dương Côn (thủy tổ của họ Lý ở Tinh Thiện [정선이씨,旌善李氏]) đến trước tại Khánh Châu (경주,慶州) dưới thời Cao Ly Nhân Tông (1127).
Lý Túy Quang (이수광,李睟光), Chi Phong Tập (지봉집,芝峯集), quyển 23, Triệu Hoàn Bích Truyện (조완벽전,趙完壁傳):
Người này họ Triệu tên Hoàn Bích là sĩ nhân ở vùng Tấn Châu (진주,晉州). Nhược quán (약관,弱冠) – ý nói độ tuổi 20. Trong Đinh Dậu Tái Loạn (정유재란,丁酉再亂) tức năm 1597 (Tuyên Tổ 30) đã bị giặc Oa bắt về Kinh Đô Nhật Bản. Chính là nơi ở của Oa Hoàng. Phục dịch cho người Oa vô cùng gian khổ nên bản thân luôn nhớ về cố hương và luôn có ý định muốn bỏ trốn. Bọn người Oa khinh rẻ mạng người coi trọng lợi ích nên xem việc làm thương nghiệp cũng như nông nghiệp đi tàu như cưỡi ngựa mà tiến ra biển đi đến các nước phía Nam xa xôi không thiếu nơi nào. Triệu sinh vì đọc hiểu văn tự mà bị bắt đi theo và từ năm Giáp Thân (tức 1604, Tuyên Tổ 37) liên tục 3 năm liền đến An Nam.
An Nam cách Nhật Bản theo đường biển là 3 vạn 7 ngàn dặm. Ra khơi ở Tát Ma Châu (Sastsumashu,薩摩州) băng qua Chương Châu (漳州) và Quảng Đông (廣東) của Trung Quốc. Cuối cùng cập bến ở An Nam huyện Hưng Nguyên (興元縣). Huyện Hưng Nguyên cách Đông Kinh của nước ấy 80 dặm (đoạn này có vẻ sai sai vì 80 dặm tầm có 36km thôi mà từ Hà Nội xuống Vinh cũng phải 360km nên phải chăng trong quá trình truyền đạt và ghi chép đã có sự nhầm lẫn, vì phải là 800 dặm mới đúng) và đó là kinh đô của nơi đó. Trong nước đang chia làm hai, một gọi là An Nam Quốc (Đàng ngoài) và một gọi là Giao Chỉ Quốc (Đàng Trong). Hai bên chiến tranh không ngừng chưa phân thắng bại. Nơi đó có một vị Văn Lý Hầu (文理候) tên Trịnh Tiễu (鄭勦) là hoạn quan làm việc tại đó. Tuổi đã 80, nơi ở vô cùng sang trọng. Nơi đó chủ yếu vắt tranh để lợp mái nhà, duy chỉ có nhà của Văn Lý Hầu là dùng ngói để lợp và dùng vữa (油灰) dán ngói. Dùng lông khổng tước dệt thành tơ sống làm màn trướng.
Một ngày nọ, Văn Lý Hầu bèn gọi Triệu sinh đến thì thấy đang có vài chục quan cao đang ngồi thưởng yến. Nghe nói Triệu sinh là người Triều Tiên, mọi người đều dùng rượu thịt tiếp đãi nồng hậu. Hỏi về việc Triệu sinh bị bắt rồi mới bảo “Chúng tôi cũng nghe chuyện quý quốc bị giặc Oa xâm lược” và tỏ vẻ vô cùng thương xót. Sau đó liền mở một quyển sách ra và nói rằng “Đây là thơ của Lý Chi Phong người quý quốc. Chi Phong chính là hiệu của Lý Túy Quang. Thơ này chính là được Lý Túy Quang tặng cho sứ thấn nước ấy (ý nói Trạng Bùng, Phùng Khắc Khoan) khi đi sứ đến Trung Quốc vào năm Đinh Dậu (1597). Ngài là người Cao Ly, chắc sẽ biết Lý Chi Phong”. Triệu sinh vốn là Hương sinh, thiếu thời lại bị bắt cộng thêm khi hỏi chỉ gọi là “Chi Phong” mà không nói rõ tên nên Triệu sinh mới đáp không rõ Chi Phong là vị nào. Mọi người thì liền thở dài một cái rồi cảm thấy kì lạ.
Triệu sinh xem qua sách đó mới thấy bên trong có đến hàng trăm danh tác từ cổ chí kim mà ở trang đầu có đề “Triều Tiên Quốc sứ thần Lý Chi Phong thi (朝鮮國使臣李芝峯詩)” mà tất cả đều có phê bình (批點) bằng mực đỏ. Hơn nữa chỉ vào trong có một câu liễn là “Sơn xuất dị hình nhiêu tượng cốt (山出異形饒象骨)” rồi nói “Nơi này có Tượng sơn vì thế mà càng kì diệu(此地有象山,所以尤妙)”. Mọi người đều khen ngợi không ngớt.
Vài ngày sau, các Nho sinh lại mời Triệu sinh đến nhà họ rồi tiếp đãi rượu thịt nồng hậu. Sau đó nói “Quý quốc là lễ nghĩa chi bang giống với bổn quốc” với vẻ rất an ủi Triệu sinh. Trong lúc nói chuyện thì có người lấy một quyển sách ra rồi nói “Đây là tác phẩm của Tể tướng quý quốc Lý Chi Phong. Tôi cùng các Nho sinh khác đều chép lại để học. Huynh cũng nên xem qua.”. Triệu sinh tự thấy bản thân như mành chỉ treo chuông có học cũng chẳng ý nghĩa gì nhưng vẫn xin giấy mực để chép lại vài đoạn rồi trở về tàu. Về sau khi thấy các học trò trong trường mới thấy là quả nhiên nhiều người mang theo sách này.
Văn Lý Hầu nói với Triệu sinh rằng “Nếu ngài muốn trở về bổn quốc thì có thể từ đây bằng qua Trung triều rồi thoát thân. Nhưng mà ngài phải ở lại đây mới được.”. Triệu sinh định làm theo lời của Văn Lý Hầu nhưng thấy nhiều người ở đó hay lừa gạt khó mà tin cậy mà nghe bảo đường đi về bổn quốc cũng vô cùng xa nên quyết định không đi nữa.
Nam nữ ở nước ấy tất cả đều xõa tóc và đi chân trần mà không mang hài. Những quan cao chức trọng cũng y thế. Những người lớn tuổi thì nhuộm răng đen và ở nước ấy cũng có nhiều người trường thọ. Có một người già đầu tóc đã bạc trắng lại đổi thành màu vàng mà răng thì như trẻ con. Vì lẽ đó mà được gọi là “hoàng phát nhi xỉ (黃髮兒齒)”. Lại hỏi tuổi của một người cao tuổi thì được biết đã 120 tuổi và những người qua trăm tuổi đều dễ thấy được. Hơn nữa phong tục nơi đó lại coi trọng việc đọc sách mà ở nơi làng quê cũng có trường học. Tiếng đọc sách mà ở xung quanh cũng có thể nghe được. Trẻ con thì học Mông Cầu (蒙求) và Dương Tiết Phan thị luận (陽節潘氏論) hoặc học thi văn. Khi đọc văn tự dùng lối hợp khẩu thanh (合口聲 – chưa rõ nghĩa gì) gần giống với tự âm của nước ta. Tuy nhiên giấy lại vô cùng quý giá nên tất cả thư tịch đều là Đường bổn (唐本 – sách do Trung Quốc làm). Ngoài ra người ở đó thích dùng súng (鳥銃) nên cả trẻ nhỏ cũng biết dùng súng.
Khí hậu của nơi đó ôn hòa nên tháng 2 tháng 3 cũng có các thể trồng dưa hấu hoặc dưa lê. Những người làm ruộng ở đây thì vào tháng 3 có người mới bắt đầu mùa vụ, có người thì đang chờ ngày thu hoạch, có cả người đã đến lúc thu hoạch. Thời tiết ban ngày thì nóng còn về đêm lại mát mẻ. Khu vực tuy có bờ biển nhưng nguồn hải sản lại không nhiều. Trái cây thì ngoài quýt và vải ra thì không có gì khác. Mời họ ăn hồng khô (乾枾) nhưng người ở đó lại không biết đó là gì. Thường thấy người ở đó chỉ nhai cau (tân lang,檳榔), được nhai cùng với lá xanh nhưng không biết đó là gì (Tiểu thuyết: Những người ở đất nước phía Nam cũng ăn cau nhưng lại nhai cùng với lá trầu (phù lưu đằng,扶留藤), chắc là đang nói đến lá này). Cây cau cao khoảng vài trượng đứng thẳng và có đốt như tre. Lá cây tựa như cây chuối.
Cây bông (木花樹) cao và to, ở bờ ruộng đâu đâu cũng có nó xuất hiện. Hoa của nó chỉ to cỡ thược dược nên nếu lấy dệt làm vải thì sẽ rất chắc và dai. Dâu tằm mỗi năm đều được trồng và tưới tiêu trong ruộng như lúa hay lúa mạch. Lá sẽ được hái để nuôi tằm nên tơ tằm vô cùng nhiều vì vậy không phân biệt quý tiện mà tất cả mọi người ở đó đều mặc được. Nếu khát nước có thể ăn mía, cơm thì chỉ ăn đủ no. Luôn uống thiêu tửu (燒酒) và lấy bột trầm hương làm thành dầu rồi bôi lên khắp cơ thể.
Có trâu (thủy ngưu,水牛) hình dáng tựa như heo rừng và có màu lông xanh đen. Được nuôi như gia súc trong nhà rồi dùng vào việc làm nông hoặc giết làm thịt. Thời tiết oi bức nên ban ngày những con trâu thường trầm mình dưới nước rồi đợi khi mặt trời lặn mới đi ra. Sừng của chúng rất to chính là những chiếc sừng đen (黑角) mà bọn người Oa thông thương mua về (Ngũ đại sử: Chiêm thành có tê giác (thủy hủy,水兕), nên có thể thủy ngưu ở đây ám chỉ thủy hủy). Voi thì duy chỉ có ở khu vực Lão Qua (Lào,老撾) được gọi là núi Voi (Tượng sơn). Có đức tượng (voi đức - chắc là tên con voi hoặc một giống voi,德象), ngà voi nó dài khoảng 5 6 thước là con có ngà dài nhất. Quốc vương nuôi khoảng 70 con voi dùng khi di hành ra ngoài. Trong số những con voi cũng có con ngồi quỳ xuống như người đang hành lễ. Còn có nhiều loại sản vật khác như khổng tước, anh vũ, trĩ trắng, chim đa đa (鷓鴣), hồ tiêu.
Đoạn sau không còn kể về truyện ở An Nam nữa mà chỉ kể về chuyến đi về lại Nhật Bản có ghé qua các nước Lữ Tống (Phillippines,呂宋國) và Lưu Cầu (Ryukyu,琉球). Ngoài ra là về những thứ mà Triệu Hoàn Bích thấy ở Nhật cũng với những truyện trên biển trong lúc ra khơi.
Cuối cùng đến năm Tuyên Tổ thứ 40 (1607) thì dưới sự giúp đỡ của Hồi đáp sứ (回答使) Lữ Hựu Cát (呂祐吉) thì Triệu Hoàn Bích mới được trở về cố hương và may mắn hơn là mẹ già và vợ vẫn ở quê nhà đợi mình.
Trước Lý Túy Quang cũng có Lý Tuấn (이준,李埈) và Trịnh Sĩ Tín (정사신,鄭士信) cũng từng viết về Triệu Hoàn Bích nhưng truyện về An Nam không viết chi tiết bằng Lý Túy Quang. Vì vậy chúng mình dịch truyện trong tập bút của Lý Túy Quang.
So với người Việt thì người Triều Tiên đến nước Việt hơi trễ. Theo các nghiên cứu thì người đầu tiên đặt chân đến bán đảo Triều Tiên là các hoàng tộc họ Lý chạy nạn trong cuộc buổi loạn lạc vào cuối thời nhà Lý. Tiêu biểu như Hoàng tử của Lý Anh Tông là Lý Long Tường (thủy tổ của họ Lý ở Hoa Sơn [화산이씨,華山李氏]) sau khi ra khơi ở Thanh Hóa đã trôi dạt đến quận Ung Tân (옹진군,甕津郡) phía Tây Bắc bán đảo Triều Tiên dưới thời Cao Ly Cao Tông (1226). Tuy nhiên trước Lý Long Tường thì đã có một hoàng thân họ Lý là Lý Dương Côn (thủy tổ của họ Lý ở Tinh Thiện [정선이씨,旌善李氏]) đến trước tại Khánh Châu (경주,慶州) dưới thời Cao Ly Nhân Tông (1127).
Lý Túy Quang (이수광,李睟光), Chi Phong Tập (지봉집,芝峯集), quyển 23, Triệu Hoàn Bích Truyện (조완벽전,趙完壁傳):
Người này họ Triệu tên Hoàn Bích là sĩ nhân ở vùng Tấn Châu (진주,晉州). Nhược quán (약관,弱冠) – ý nói độ tuổi 20. Trong Đinh Dậu Tái Loạn (정유재란,丁酉再亂) tức năm 1597 (Tuyên Tổ 30) đã bị giặc Oa bắt về Kinh Đô Nhật Bản. Chính là nơi ở của Oa Hoàng. Phục dịch cho người Oa vô cùng gian khổ nên bản thân luôn nhớ về cố hương và luôn có ý định muốn bỏ trốn. Bọn người Oa khinh rẻ mạng người coi trọng lợi ích nên xem việc làm thương nghiệp cũng như nông nghiệp đi tàu như cưỡi ngựa mà tiến ra biển đi đến các nước phía Nam xa xôi không thiếu nơi nào. Triệu sinh vì đọc hiểu văn tự mà bị bắt đi theo và từ năm Giáp Thân (tức 1604, Tuyên Tổ 37) liên tục 3 năm liền đến An Nam.
An Nam cách Nhật Bản theo đường biển là 3 vạn 7 ngàn dặm. Ra khơi ở Tát Ma Châu (Sastsumashu,薩摩州) băng qua Chương Châu (漳州) và Quảng Đông (廣東) của Trung Quốc. Cuối cùng cập bến ở An Nam huyện Hưng Nguyên (興元縣). Huyện Hưng Nguyên cách Đông Kinh của nước ấy 80 dặm (đoạn này có vẻ sai sai vì 80 dặm tầm có 36km thôi mà từ Hà Nội xuống Vinh cũng phải 360km nên phải chăng trong quá trình truyền đạt và ghi chép đã có sự nhầm lẫn, vì phải là 800 dặm mới đúng) và đó là kinh đô của nơi đó. Trong nước đang chia làm hai, một gọi là An Nam Quốc (Đàng ngoài) và một gọi là Giao Chỉ Quốc (Đàng Trong). Hai bên chiến tranh không ngừng chưa phân thắng bại. Nơi đó có một vị Văn Lý Hầu (文理候) tên Trịnh Tiễu (鄭勦) là hoạn quan làm việc tại đó. Tuổi đã 80, nơi ở vô cùng sang trọng. Nơi đó chủ yếu vắt tranh để lợp mái nhà, duy chỉ có nhà của Văn Lý Hầu là dùng ngói để lợp và dùng vữa (油灰) dán ngói. Dùng lông khổng tước dệt thành tơ sống làm màn trướng.
Một ngày nọ, Văn Lý Hầu bèn gọi Triệu sinh đến thì thấy đang có vài chục quan cao đang ngồi thưởng yến. Nghe nói Triệu sinh là người Triều Tiên, mọi người đều dùng rượu thịt tiếp đãi nồng hậu. Hỏi về việc Triệu sinh bị bắt rồi mới bảo “Chúng tôi cũng nghe chuyện quý quốc bị giặc Oa xâm lược” và tỏ vẻ vô cùng thương xót. Sau đó liền mở một quyển sách ra và nói rằng “Đây là thơ của Lý Chi Phong người quý quốc. Chi Phong chính là hiệu của Lý Túy Quang. Thơ này chính là được Lý Túy Quang tặng cho sứ thấn nước ấy (ý nói Trạng Bùng, Phùng Khắc Khoan) khi đi sứ đến Trung Quốc vào năm Đinh Dậu (1597). Ngài là người Cao Ly, chắc sẽ biết Lý Chi Phong”. Triệu sinh vốn là Hương sinh, thiếu thời lại bị bắt cộng thêm khi hỏi chỉ gọi là “Chi Phong” mà không nói rõ tên nên Triệu sinh mới đáp không rõ Chi Phong là vị nào. Mọi người thì liền thở dài một cái rồi cảm thấy kì lạ.
Triệu sinh xem qua sách đó mới thấy bên trong có đến hàng trăm danh tác từ cổ chí kim mà ở trang đầu có đề “Triều Tiên Quốc sứ thần Lý Chi Phong thi (朝鮮國使臣李芝峯詩)” mà tất cả đều có phê bình (批點) bằng mực đỏ. Hơn nữa chỉ vào trong có một câu liễn là “Sơn xuất dị hình nhiêu tượng cốt (山出異形饒象骨)” rồi nói “Nơi này có Tượng sơn vì thế mà càng kì diệu(此地有象山,所以尤妙)”. Mọi người đều khen ngợi không ngớt.
Vài ngày sau, các Nho sinh lại mời Triệu sinh đến nhà họ rồi tiếp đãi rượu thịt nồng hậu. Sau đó nói “Quý quốc là lễ nghĩa chi bang giống với bổn quốc” với vẻ rất an ủi Triệu sinh. Trong lúc nói chuyện thì có người lấy một quyển sách ra rồi nói “Đây là tác phẩm của Tể tướng quý quốc Lý Chi Phong. Tôi cùng các Nho sinh khác đều chép lại để học. Huynh cũng nên xem qua.”. Triệu sinh tự thấy bản thân như mành chỉ treo chuông có học cũng chẳng ý nghĩa gì nhưng vẫn xin giấy mực để chép lại vài đoạn rồi trở về tàu. Về sau khi thấy các học trò trong trường mới thấy là quả nhiên nhiều người mang theo sách này.
Văn Lý Hầu nói với Triệu sinh rằng “Nếu ngài muốn trở về bổn quốc thì có thể từ đây bằng qua Trung triều rồi thoát thân. Nhưng mà ngài phải ở lại đây mới được.”. Triệu sinh định làm theo lời của Văn Lý Hầu nhưng thấy nhiều người ở đó hay lừa gạt khó mà tin cậy mà nghe bảo đường đi về bổn quốc cũng vô cùng xa nên quyết định không đi nữa.
Nam nữ ở nước ấy tất cả đều xõa tóc và đi chân trần mà không mang hài. Những quan cao chức trọng cũng y thế. Những người lớn tuổi thì nhuộm răng đen và ở nước ấy cũng có nhiều người trường thọ. Có một người già đầu tóc đã bạc trắng lại đổi thành màu vàng mà răng thì như trẻ con. Vì lẽ đó mà được gọi là “hoàng phát nhi xỉ (黃髮兒齒)”. Lại hỏi tuổi của một người cao tuổi thì được biết đã 120 tuổi và những người qua trăm tuổi đều dễ thấy được. Hơn nữa phong tục nơi đó lại coi trọng việc đọc sách mà ở nơi làng quê cũng có trường học. Tiếng đọc sách mà ở xung quanh cũng có thể nghe được. Trẻ con thì học Mông Cầu (蒙求) và Dương Tiết Phan thị luận (陽節潘氏論) hoặc học thi văn. Khi đọc văn tự dùng lối hợp khẩu thanh (合口聲 – chưa rõ nghĩa gì) gần giống với tự âm của nước ta. Tuy nhiên giấy lại vô cùng quý giá nên tất cả thư tịch đều là Đường bổn (唐本 – sách do Trung Quốc làm). Ngoài ra người ở đó thích dùng súng (鳥銃) nên cả trẻ nhỏ cũng biết dùng súng.
Khí hậu của nơi đó ôn hòa nên tháng 2 tháng 3 cũng có các thể trồng dưa hấu hoặc dưa lê. Những người làm ruộng ở đây thì vào tháng 3 có người mới bắt đầu mùa vụ, có người thì đang chờ ngày thu hoạch, có cả người đã đến lúc thu hoạch. Thời tiết ban ngày thì nóng còn về đêm lại mát mẻ. Khu vực tuy có bờ biển nhưng nguồn hải sản lại không nhiều. Trái cây thì ngoài quýt và vải ra thì không có gì khác. Mời họ ăn hồng khô (乾枾) nhưng người ở đó lại không biết đó là gì. Thường thấy người ở đó chỉ nhai cau (tân lang,檳榔), được nhai cùng với lá xanh nhưng không biết đó là gì (Tiểu thuyết: Những người ở đất nước phía Nam cũng ăn cau nhưng lại nhai cùng với lá trầu (phù lưu đằng,扶留藤), chắc là đang nói đến lá này). Cây cau cao khoảng vài trượng đứng thẳng và có đốt như tre. Lá cây tựa như cây chuối.
Cây bông (木花樹) cao và to, ở bờ ruộng đâu đâu cũng có nó xuất hiện. Hoa của nó chỉ to cỡ thược dược nên nếu lấy dệt làm vải thì sẽ rất chắc và dai. Dâu tằm mỗi năm đều được trồng và tưới tiêu trong ruộng như lúa hay lúa mạch. Lá sẽ được hái để nuôi tằm nên tơ tằm vô cùng nhiều vì vậy không phân biệt quý tiện mà tất cả mọi người ở đó đều mặc được. Nếu khát nước có thể ăn mía, cơm thì chỉ ăn đủ no. Luôn uống thiêu tửu (燒酒) và lấy bột trầm hương làm thành dầu rồi bôi lên khắp cơ thể.
Có trâu (thủy ngưu,水牛) hình dáng tựa như heo rừng và có màu lông xanh đen. Được nuôi như gia súc trong nhà rồi dùng vào việc làm nông hoặc giết làm thịt. Thời tiết oi bức nên ban ngày những con trâu thường trầm mình dưới nước rồi đợi khi mặt trời lặn mới đi ra. Sừng của chúng rất to chính là những chiếc sừng đen (黑角) mà bọn người Oa thông thương mua về (Ngũ đại sử: Chiêm thành có tê giác (thủy hủy,水兕), nên có thể thủy ngưu ở đây ám chỉ thủy hủy). Voi thì duy chỉ có ở khu vực Lão Qua (Lào,老撾) được gọi là núi Voi (Tượng sơn). Có đức tượng (voi đức - chắc là tên con voi hoặc một giống voi,德象), ngà voi nó dài khoảng 5 6 thước là con có ngà dài nhất. Quốc vương nuôi khoảng 70 con voi dùng khi di hành ra ngoài. Trong số những con voi cũng có con ngồi quỳ xuống như người đang hành lễ. Còn có nhiều loại sản vật khác như khổng tước, anh vũ, trĩ trắng, chim đa đa (鷓鴣), hồ tiêu.
Đoạn sau không còn kể về truyện ở An Nam nữa mà chỉ kể về chuyến đi về lại Nhật Bản có ghé qua các nước Lữ Tống (Phillippines,呂宋國) và Lưu Cầu (Ryukyu,琉球). Ngoài ra là về những thứ mà Triệu Hoàn Bích thấy ở Nhật cũng với những truyện trên biển trong lúc ra khơi.
Cuối cùng đến năm Tuyên Tổ thứ 40 (1607) thì dưới sự giúp đỡ của Hồi đáp sứ (回答使) Lữ Hựu Cát (呂祐吉) thì Triệu Hoàn Bích mới được trở về cố hương và may mắn hơn là mẹ già và vợ vẫn ở quê nhà đợi mình.
Trước Lý Túy Quang cũng có Lý Tuấn (이준,李埈) và Trịnh Sĩ Tín (정사신,鄭士信) cũng từng viết về Triệu Hoàn Bích nhưng truyện về An Nam không viết chi tiết bằng Lý Túy Quang. Vì vậy chúng mình dịch truyện trong tập bút của Lý Túy Quang.



