Trong cuộc chiến tranh Thanh Nhật (1894-1895) thì nhiều người lầm tưởng về trang bị vũ khí của lục quân Thanh thua kém nhiều so với lục quân Nhật nhưng thật ra không phải, chủ lực của lục quân Thanh trong cuộc chiến này là lục quân Bắc Dương được trang bị và huấn luyện theo tiêu chuẩn châu Âu dưới sự giám sát của Lý Hồng Chương,về súng tay thì được trang bị Model Henry-Martini Mk1 do Trung Quốc sản xuất, về chất lượng có thể không bằng súng do Mỹ sản xuất nhưng cơ bản cũng không thua kém quá nhiều, về pháo binh thì đều được trang bị mẫu pháo nạp hậu mới của hãng Krupp, nghĩa là về trang bị quân Thanh so với quân Nhật có thể nói là tương đương. Về huấn luyện thì cả hai quân đội đều được huấn luyện theo kiểu phương Tây, cả 2 đều cử các sĩ quan đi học ở các trường quân sự phương Tây, tổ chức quân đội cũng theo kiểu phương Tây, vậy tại sao lục quân Thanh lại thảm bại trước lục quân Nhật như vậy, sau đây là 1 số lý do chính:
- Trình độ: Không cần nói cũng biết quân Thanh thời kỳ này nó nát đến thế nào, quân đội mang tiếng được trang bị tốt, huấn luyện theo kiểu phương Tây nhưng thực tế tình trạng tham nhũng đã làm yếu đi sức mạnh của quân đội Thanh đi rất nhiều, chưa kể sau cuộc chiến Thái Bình Thiên Quốc thì thực tế quân đội nhà Thanh không còn là 1 thể thống nhất nữa mà được chia thành nhiều hệ phái khác nhau như Tương Quân, Hoài Quân, Sở quân,... các quân đội này mang danh nghĩa là quân đội của nhà Thanh nhưng lại trung thành với các lãnh chúa hơn là với vua nên khi xảy ra chiến tranh việc hỗ trợ nhau là điều khó xảy ra. Còn về phía quân Nhật thì không cần nói, quân đội là 1 thể thống nhất, trung thành tuyệt đối với Thiên Hoàng, huấn luyện và trang bị tốt nên tinh thần của họ rất cao.
- Chiến thuật: Quân Bắc dương được Lý Hồng Chương giám sát, về chiến thuật dù được cử đi học ở phương Tây nhưng về cơ bản vẫn chịu sự ảnh hưởng nhiều từ Lý Hồng Chương. Nhìn lại quá khứ thì Lý Hồng Chương nổi lên từ chiến tranh Thái Bình Thiên Quốc, Lý vốn là học trò của Tăng Quốc Phiên và chiến đấu dưới lá cờ của Tương Quân, sau khi chiếm được An Khánh thì được cử đến vùng Tô Chiết cứu viện do lúc này Lý Tú Thành đang tấn công vào vùng này và đe dọa chiếm Thượng Hải, Lý về quê xây dựng lực lượng gọi là Hoài Quân với quân số 6.000 người đi cứu viện Thượng Hải và đã thành công ngăn chặn 100.000 quân của Lý Tú Thành. Quân Hoài sau này phát triển thành lực lượng mạnh mẽ với 60.000 quân với nhiều trang bị kiểu phương Tây, theo ghi chép thì các doanh quân của Hoài quân được trang bị một nửa là súng mua từ phương Tây, còn lại là vũ khí lạnh như đao, giáo... nên có sức tấn công rất mạnh và đã lập được rất nhiều chiến công. Về tư duy chiến thuật thì quân Hoài chịu nhiều ảnh hưởng của Tương quân, do có quân số ít hơn nhiều quân Thái Bình nên quân Tương sẽ thường không chiến đấu trực diện trên đồng trống, về chiến thuật thì khi hành quân quân Tương sẽ đi trinh sát trước các vị trí đóng quân tiếp theo, khi đến nơi sẽ dựng công sự kiên cố, trước công sự sẽ đào hào và dựng các chướng ngại vật bằng gỗ để cản người tấn công, dù chỉ ở 1 đêm họ cũng sẽ làm như thế, điều này dẫn đến việc tốc độ hành quân sẽ rất chậm, thường chỉ hơn 10 dặm 1 ngày nhưng lại tránh được sự tấn công của quân Thái Bình. Thực tế chứng minh quân Thái Bình gặp rất nhiều khó khăn khi tấn công vào các vị trí được củng cố vững chắc của quân Tương, cái này một phần cũng do trang bị của quân đội 2 bên thời điểm này khá lạc hậu, súng thì là súng điểu thương mồi thừng, pháo thời này vẫn là các mẫu Hồng Y đại pháo từ thời nhà Minh, uy lực mạnh nhưng nặng nề khó vận chuyển, các loại dã pháo thì chỉ là loại Phách Sơn pháo có trọng lượng nhỏ từ 800-1000kg bắn đạn chì, loại này bắn các mục tiêu mềm thì tốt nhưng để bắn các loại công sự kiên cố được đắp bằng đất nện thì không đủ nên các cuộc tấn công thường sẽ dùng sức người, pháo binh mang tính chất áp chế là chính, do đó quân phòng thủ sẽ chiếm rất nhiều lợi thế trước quân tấn công nên việc xây dựng các tuyến phòng thủ có chiều sâu là thực sự không cần thiết. Nhờ có chiến thuật này cùng với tài năng của các chỉ huy mà quân Tương Hoài có thể tiêu diệt được Thái Bình Thiên Quốc hùng mạnh với quân số ít hơn nhiều lần.
Tuy nhiên nếu đem áp dụng chiến thuật này vào cuộc chiến hiện đại như cuộc chiến Thanh Nhật thì không phù hợp, với các trang thiết bị hiện đại thì các công sự của quân Thanh tỏ ra yếu ớt trước pháo binh của Nhật, quân Thanh lại không xây dựng các tuyến phòng thủ có chiều sâu để bào mòn sức mạnh quân Nhật mà chỉ có 1 tuyến như thời Thái Bình Thiên Quốc dẫn đến khi bị chọc thủng tuyến phòng thủ thì quân Nhật có thể tự do tấn công mà không còn bị cản trở dẫn đến việc quân phòng thủ buộc phải chiến đấu ngoài trận địa mà không còn các vị trí phòng thủ kiên cố nữa dẫn đến thiệt hại nặng nề.
- Trình độ: Không cần nói cũng biết quân Thanh thời kỳ này nó nát đến thế nào, quân đội mang tiếng được trang bị tốt, huấn luyện theo kiểu phương Tây nhưng thực tế tình trạng tham nhũng đã làm yếu đi sức mạnh của quân đội Thanh đi rất nhiều, chưa kể sau cuộc chiến Thái Bình Thiên Quốc thì thực tế quân đội nhà Thanh không còn là 1 thể thống nhất nữa mà được chia thành nhiều hệ phái khác nhau như Tương Quân, Hoài Quân, Sở quân,... các quân đội này mang danh nghĩa là quân đội của nhà Thanh nhưng lại trung thành với các lãnh chúa hơn là với vua nên khi xảy ra chiến tranh việc hỗ trợ nhau là điều khó xảy ra. Còn về phía quân Nhật thì không cần nói, quân đội là 1 thể thống nhất, trung thành tuyệt đối với Thiên Hoàng, huấn luyện và trang bị tốt nên tinh thần của họ rất cao.
- Chiến thuật: Quân Bắc dương được Lý Hồng Chương giám sát, về chiến thuật dù được cử đi học ở phương Tây nhưng về cơ bản vẫn chịu sự ảnh hưởng nhiều từ Lý Hồng Chương. Nhìn lại quá khứ thì Lý Hồng Chương nổi lên từ chiến tranh Thái Bình Thiên Quốc, Lý vốn là học trò của Tăng Quốc Phiên và chiến đấu dưới lá cờ của Tương Quân, sau khi chiếm được An Khánh thì được cử đến vùng Tô Chiết cứu viện do lúc này Lý Tú Thành đang tấn công vào vùng này và đe dọa chiếm Thượng Hải, Lý về quê xây dựng lực lượng gọi là Hoài Quân với quân số 6.000 người đi cứu viện Thượng Hải và đã thành công ngăn chặn 100.000 quân của Lý Tú Thành. Quân Hoài sau này phát triển thành lực lượng mạnh mẽ với 60.000 quân với nhiều trang bị kiểu phương Tây, theo ghi chép thì các doanh quân của Hoài quân được trang bị một nửa là súng mua từ phương Tây, còn lại là vũ khí lạnh như đao, giáo... nên có sức tấn công rất mạnh và đã lập được rất nhiều chiến công. Về tư duy chiến thuật thì quân Hoài chịu nhiều ảnh hưởng của Tương quân, do có quân số ít hơn nhiều quân Thái Bình nên quân Tương sẽ thường không chiến đấu trực diện trên đồng trống, về chiến thuật thì khi hành quân quân Tương sẽ đi trinh sát trước các vị trí đóng quân tiếp theo, khi đến nơi sẽ dựng công sự kiên cố, trước công sự sẽ đào hào và dựng các chướng ngại vật bằng gỗ để cản người tấn công, dù chỉ ở 1 đêm họ cũng sẽ làm như thế, điều này dẫn đến việc tốc độ hành quân sẽ rất chậm, thường chỉ hơn 10 dặm 1 ngày nhưng lại tránh được sự tấn công của quân Thái Bình. Thực tế chứng minh quân Thái Bình gặp rất nhiều khó khăn khi tấn công vào các vị trí được củng cố vững chắc của quân Tương, cái này một phần cũng do trang bị của quân đội 2 bên thời điểm này khá lạc hậu, súng thì là súng điểu thương mồi thừng, pháo thời này vẫn là các mẫu Hồng Y đại pháo từ thời nhà Minh, uy lực mạnh nhưng nặng nề khó vận chuyển, các loại dã pháo thì chỉ là loại Phách Sơn pháo có trọng lượng nhỏ từ 800-1000kg bắn đạn chì, loại này bắn các mục tiêu mềm thì tốt nhưng để bắn các loại công sự kiên cố được đắp bằng đất nện thì không đủ nên các cuộc tấn công thường sẽ dùng sức người, pháo binh mang tính chất áp chế là chính, do đó quân phòng thủ sẽ chiếm rất nhiều lợi thế trước quân tấn công nên việc xây dựng các tuyến phòng thủ có chiều sâu là thực sự không cần thiết. Nhờ có chiến thuật này cùng với tài năng của các chỉ huy mà quân Tương Hoài có thể tiêu diệt được Thái Bình Thiên Quốc hùng mạnh với quân số ít hơn nhiều lần.
Tuy nhiên nếu đem áp dụng chiến thuật này vào cuộc chiến hiện đại như cuộc chiến Thanh Nhật thì không phù hợp, với các trang thiết bị hiện đại thì các công sự của quân Thanh tỏ ra yếu ớt trước pháo binh của Nhật, quân Thanh lại không xây dựng các tuyến phòng thủ có chiều sâu để bào mòn sức mạnh quân Nhật mà chỉ có 1 tuyến như thời Thái Bình Thiên Quốc dẫn đến khi bị chọc thủng tuyến phòng thủ thì quân Nhật có thể tự do tấn công mà không còn bị cản trở dẫn đến việc quân phòng thủ buộc phải chiến đấu ngoài trận địa mà không còn các vị trí phòng thủ kiên cố nữa dẫn đến thiệt hại nặng nề.


